Tiếng bác sĩ lạc đi giữa căn phòng

Trong nhiệm kỳ tổng thống của Joe Biden, hai lực lượng lớn đã đẩy “nhà nước thông tin” đến giới hạn quyền lực của nó. Lực lượng thứ nhất xuất phát từ phản ứng của chính quyền đối với đại dịch Covid-19. Lực lượng thứ hai đến từ quyết định sử dụng kho vũ khí chống…

hoach-le-dinh-PeRt3uMmjYM-unsplash.jpg
Da Lat
Thông tin bài viết

Báo The Guardian viết về một trường hợp khác: chỉ sau vài tháng tương tác với ChatGPT, Biesma, chuyên gia IT người Hà Lan, đã tiêu 100 ngàn Euro vào một startup hoang tưởng do được AI khích lệ. Hàng ngày, anh không còn có thể tham gia vào các câu chuyện với vợ con mình nữa vì trong đầu anh chỉ nghĩ tới chuyện này mà thôi. Anh đệ đơn ly hôn, anh đánh bố vợ. Anh phải nhập viện 3 lần. 

Ghi chú bài viết

Trong nhiệm kỳ tổng thống của Joe Biden, hai lực lượng lớn đã đẩy “nhà nước thông tin” đến giới hạn quyền lực của nó. Lực lượng thứ nhất xuất phát từ phản ứng của chính quyền đối với đại dịch Covid-19. Lực lượng thứ hai đến từ quyết định sử dụng kho vũ khí chống nổi dậy nhằm vào chính công dân Mỹ bị cáo buộc là cực đoan trong nước. Cả hai đều dựa vào một bộ máy kiểm duyệt và giám sát công-tư rộng lớn, ban đầu được xây dựng để chống lại thông tin sai lệch từ nước ngoài, nhưng nay được sử dụng để tiến hành các cuộc chiến chính trị trong nước.

Đại dịch đã đổ thêm nhiên liệu phản lực vào cỗ máy chống thông tin sai lệch đang phát triển, đồng thời mở rộng sự kiểm soát của nó sang thế giới vật lý. Điều đó đưa “nhà nước thông tin” vào đời sống hàng ngày của người dân. Đây là điều khác hẳn với những tranh cãi về các cáo buộc sai lệch rằng Donald Trump thông đồng với Nga vốn ám ảnh nhiệm kỳ Trump. Dù “Russiagate” chiếm lĩnh chu kỳ tin tức, về cơ bản nó là một “tội ác chính trị” đối với những khái niệm trừu tượng như “pháp quyền” và “quy trình dân chủ”. Người dân bình thường có thể phần lớn phớt lờ nó. Nhưng các lệnh phong tỏa và yêu cầu tiêm vaccine đã xóa bỏ “đặc quyền” đó.

Sự tàn nhẫn vô nghĩa khi ngăn cản người dân tham dự đám cưới ngoài trời hay thăm người thân bệnh nặng trong những giờ phút cuối đời. Hình ảnh chính quyền tại New York khóa sân chơi của trẻ em. Chính quyền tại Venice, California dùng xe ủi đổ 37 tấn cát vào công viên trượt ván biểu tượng để ngăn trẻ em chơi ngoài trời. Việc đóng cửa trường học kéo dài khiến trẻ em bị cô lập và gây tổn thất học tập mang tính thế hệ, đặc biệt ảnh hưởng nặng nề đến trẻ em nghèo. Việc tầng lớp thượng lưu và giới tinh hoa chính trị ngang nhiên phớt lờ các hạn chế này—chẳng hạn tại bữa tiệc sinh nhật 60 tuổi của Barack Obama, nơi các khách mời nổi tiếng không đeo khẩu trang trong khi nhân viên phục vụ bị buộc phải đeo. Việc kỹ thuật phong tỏa được nhập khẩu từ nhà nước giám sát độc đoán Trung Quốc. Và điều gây phẫn nộ hơn cả là việc thảo luận về nguồn gốc virus bị gán là “thuyết âm mưu phân biệt chủng tộc”.

Không cần tranh luận công khai hay sửa đổi Hiến pháp, quyền kiểm duyệt thông tin “đúng nhưng có hại” đã trở thành luật trong xã hội trực tuyến do mã code chi phối.

Bằng cách áp đặt các chính sách tùy tiện và quá mức trong khi che giấu thông tin quan trọng, nhà nước đã kích động phản ứng dữ dội từ công chúng. Đổi lại, các quan chức không xem đó là bất đồng dân chủ hợp pháp mà là bằng chứng cho thấy thông tin sai lệch đang thúc đẩy chủ nghĩa cực đoan trong nước. Họ đáp trả bằng cách siết chặt kiểm soát thông tin, áp dụng các biện pháp mới như “debanking” (cắt quyền truy cập tài khoản tài chính). Sự đàn áp chính thức và phản kháng quần chúng nuôi dưỡng lẫn nhau trong một vòng xoáy cực đoan hóa hai phía, phơi bày thực tế về thao túng đại chúng và sự phụ thuộc kỹ thuật số.

Ngày 15/2/2020, khi thế giới mới bắt đầu biết về Covid, người đứng đầu WHO, Tedros Adhanom Ghebreyesus, tuyên bố: “Chúng ta không chỉ chống lại dịch bệnh; chúng ta còn chống lại ‘đại dịch thông tin’. Tin giả lan nhanh hơn virus và nguy hiểm không kém.” Điều này diễn ra gần một tháng trước khi WHO chính thức tuyên bố đại dịch. “Infodemic” không chỉ đi trước đại dịch mà còn “nguy hiểm không kém”.

Trải vách quế gió vàng hiu hắt,
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng;
Oán chi những khách tiêu phòng,
Mà xui phận bạc nằm trong má đào!
Duyên đã may cớ sao lại rủi?
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang?
Vì đâu nên nỗi dở dang,
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình!

Trộm nhớ thuở gây hình tạo hoá,
Vẻ phù dung một đoá khoe tươi;
Nhuỵ hoa chưa mỉm miệng cười,
Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung.
Áng đào kiểm đâm bông não chúng,
Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành.
Bóng gương lấp ló trong mành,
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa!
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa!
Hương trời đắm nguyệt say hoa,
Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương.
Cờ tiên rượu thánh ai đang,
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.
Cầm điếm nguyệt, phỏng tầm Tư Mã,
Địch lầu thu, đọ gã Tiêu lang.
Dẫu mà tay múa miệng xang,
Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng.

Tồi tàn sâu trong ngóc ngách Queens hay Brooklyn với ba người bạn cùng phòng và vài gia đình chuột cống. Tài sản ròng ư? Nếu thanh toán hết thẻ tín dụng mà số dư ngân hàng không âm, hôm đó là một ngày Lễ Tạ Ơn. Ước mơ của tầng lớp này vô cùng bé nhỏ: “Mong sao đến đời con mình, nó gom góp được 1 triệu đô la tài sản ròng”. Vâng, 1 triệu đô, con số nghe có vẻ to tát ở thế kỷ 20, nhưng ở New York hiện tại, nó chỉ đủ mua một căn hộ studio mà nếu dang hai tay ra, bạn có thể chạm vào cả bếp lẫn bồn cầu.

Đây là tầng lớp tự hào nhất, hãnh diện nhất, và cũng… hoang tưởng nhất về vị trí của mình trong nấc thang xã hội. Tầng lớp Cần lao đã thoát nghèo thành công. Họ có kỹ năng, sở hữu hàng tá chứng chỉ và lấp đầy tủ bằng những tấm bằng sau đại học (Master, PhD, MD, JD). Họ là bác sĩ, luật sư, kỹ sư công nghệ, giáo sư đại học được biên chế, hay thậm chí là dân biểu địa phương.

“Họ mặc áo khoác Patagonia lượn lờ ở Midtown, đeo thẻ nhân viên Google”. Goldman Sachs hay bệnh viện Mount Sinai lủng lẳng trước ngực như một lá bùa hộ mệnh. Mức lương của họ dao động từ 150.000 đến 500.000 đô la/năm. Nghe rất “kêu”, đúng không?

Nhưng chữ “Cần” trong cần mẫn và “Lao” trong lao lực không tha một ai. Sự thật sâu cay là: dù khoác lên mình chiếc áo tinh hoa, họ vẫn chỉ là những kẻ bán sức lao động để đổi lấy tiền. Lương cao đi kèm với thuế thu nhập cắt cổ (liên bang, bang, và thành phố hợp lực cắn mất gần một nửa). Phần còn lại cống nạp cho nợ sinh viên (student loans), tiền gửi trẻ (3.000 – 5.000 đô/tháng/đứa), và khoản vay thế chấp (mortgage) cho căn chung cư bé tẹo nhưng “gần trường học tốt”.

Họ tưởng mình là giới thượng lưu, nhưng hễ ngừng làm việc chừng 3 tháng, chuỗi domino tài chính của họ sẽ sụp đổ. Những vị dân biểu ở tầng lớp này ban ngày đi rao giảng chính sách, nhưng đến kỳ bầu cử lại phải muối mặt xin xỏ tài trợ từ các tầng lớp phía trên. Suy cho cùng, Cần lao vẫn là Cần lao, chỉ khác là chiếc cày của họ được bọc bằng vàng giả.

Sau khi thua, Donald Trump phát động chiến dịch “Stop the Steal”, dẫn đến sự kiện ngày 6/1/2021 tại Điện Capitol. Hình ảnh bạo loạn lan tràn truyền thông.

Chạm mốc 10 triệu đô la tài sản ròng, chúng ta bắt đầu bước vào lãnh địa của “Tư bản”. Phú thương bá hộ thường không sở hữu những tấm bằng lấp lánh như giới Cần lao. Họ có thể là những người nhập cư đến Mỹ 30 năm trước, cắn răng mở chuỗi tiệm giặt ủi, chuỗi nhà hàng phở, công ty xuất nhập khẩu, hoặc những kẻ may mắn khởi nghiệp công nghệ rồi bán công ty đúng thời điểm.

Họ là những “trọc phú” đúng nghĩa. Ở mức 10 triệu đô, họ đã dứt điểm được nỗi lo cơm áo gạo tiền. Họ bước vào Whole Foods không cần nhìn giá, lái những chiếc SUV hầm hố và sở hữu nhà nghỉ mát ở Florida. Tuy nhiên, ở New York, 10 triệu đô vẫn là một con số “nhỡ cỡ”. Họ có tài sản, nhưng chưa đủ giàu để mua sự tôn trọng của giới tinh hoa truyền thống. Khi họ cố nhét con cái vào các trường tư thục trăm năm tuổi ở Manhattan như Trinity hay Dalton, họ mới cay đắng nhận ra: tiền của mình chỉ là “tiền lẻ” trong mắt hội đồng tuyển sinh, và mãi bị gắn mác “những kẻ mới phất” thiếu khí chất.

Marcuse áp dụng phép biện chứng của Hegel và Marx. Trung thành với chủ nghĩa Marx “cổ điển”, ông lấy lại (không phê phán) không chỉ phương pháp mà cả những luận điểm của Marx, nói chung về phương diện này, ông cũng ‘một chiều’. Theo định nghĩa của ông, Con người Một chiều là con người quy thuận những thiết chế hiện hành (tư tưởng, hiện trạng xã hội…) và không thấy cần thiết phải phê phán nó (vậy có thể gọi nó một cách khác: “Con người Thuận chiều” – HT). Bản thân Marcuse đề xuất luận điểm về Con người Một chiều, nhưng trong lập luận, ông thuận theo học thuyết của người thầy của ông trước đó 100 năm: K. Marx. Ông tự nhận mình theo phép biện chứng Hegel, nhưng biện chứng của ông không phải là biện chứng triệt để.

Cốt lõi phép biện chứng của Hegel nằm trong ý tưởng “mâu thuẫn là động lực của phát triển.” Trong tiến trình tư duy, những ý tưởng ban đầu là những “tiền đề”. Tiếp tục tư duy, sẽ xuất hiện những ý tưởng mới, trái ngược với tiền đề, được gọi là “phản đề”, chúng làm thành một cặp mâu thuẫn, vừa nương tựa nhau vừa đấu tranh với nhau, trong đó phản đề có xu hướng phủ định tiền đề. Một khi có tính hợp lý lớn hơn, phản đề sẽ thắng và thay thế tiền đề; nhưng tiền đề cũng không hoàn toàn mất đi, một số yếu tố hợp lý của nó còn lại sẽ hợp với phản đề tạo thành “hợp đề”, bao gồm những yếu tố hợp lý của cả hai, tiền đề và phản đề. Phản đề là phủ định của tiền đề, hợp đề lại là phủ định của phản đề, nên nó là “phủ định của phủ định”. Quá trình phát triển như vậy là “đấu tranh giữa những mặt đối lập”, nó bao gồm một chuỗi những phủ định, cứ thế đến vô cùng. Phát triển, là được thay thế bằng cái khác, cái mới hơn, tiến bộ hơn. Vì muốn thắng cái trước thì cái sau phải hợp lí hơn, nên sự phát triển tiến lên theo hướng ngày càng hợp lý: nó là tiến bộ. Khi không còn đối lập, thì không còn phát triển, sự vật rơi vào bế tắc, suy tàn, và chết.

Trong thời của nó và gần hết thế kỷ XX, phương pháp biện chứng Hegel thống trị triết học châu Âu, do nó mang đến một công cụ đắc dụng trong việc giải thích những quá trình phát triển. Nhưng nếu có tham vọng là học thuyết duy nhất đúng và mãi mãi đúng, thì nó tất thất bại, vì như vậy nó phản lại chính nguyên lý cốt lõi của mình.

Hegel nói: Cái gì hiện thực là hợp lý. Cái gì hợp lý là Hiện thực.

Đừng hiểu câu nói trên như một giáo huấn, hay một chân lý bất di bất dịch. Hegel là một triết gia, để tôn trọng ông, ta nên coi lời ông như một gợi mở cho suy tư.

Hiện thực là gì? Hiện thực không phải chỉ là những điều đã và đang xảy ra, mà là toàn bộ diễn biến của cuộc sống, trong đó có những điều đã xảy ra, đang xảy ra và có thể xảy ra (trong tương lai).

Hợp lý là gì? “Lý” đây là Lý tính, có thể hiểu là Lý tính tuyệt đối đồng nhất với Thượng đế, mà, trong thời đại hậu Khai Sáng của Hegel, nó còn là Lý tính của Con người có tư duy sáng suốt.

Diễn giải mệnh đề kép của Hegel, F. Engels cho rằng nó có ý nghĩa cách mạng. Theo ông, kết luận có thể rút ra một cách logic từ mệnh đề ấy là: CÁI GÌ ĐANG TỒN TẠI NHẤT ĐỊNH PHẢI TIÊU VONG.

Với suy nghĩ này, Engels mới thật sự là biện chứng. “NÓ” phải tiêu vong không phải vì “Nó” suy tàn; “NÓ” tiêu vong chỉ vì nó đang tồn tại. Một kết luận triệt để: Không có cái gì tồn tại vĩnh viễn! Bất cứ cái gì đang tồn tại sẽ đến lúc bị thay thế bởi cái khác, như một lẽ đương nhiên.